Luật Trí tuệ nhân tạo (Luật số 134/2025/QH15) có hiệu lực từ ngày 01/3/2026. Nghị định 142/2026/NĐ-CP quy định chi tiết luật, có hiệu lực từ 01/5/2026. Quyết định 33/2026/QĐ-TTg, hiệu lực từ 15/8/2026, ban hành danh mục 46 hệ thống AI rủi ro cao thuộc 6 lĩnh vực. Nếu doanh nghiệp của bạn cung cấp hoặc triển khai AI tại Việt Nam, từ nay bạn phải tự phân loại mọi hệ thống trước khi đưa vào sử dụng, và thông báo hệ thống rủi ro trung bình và cao cho Bộ Khoa học và Công nghệ. Bạn phải cho người dùng biết họ đang tương tác với AI, và đánh dấu nội dung âm thanh, hình ảnh, video do AI tạo ra. Sự cố nghiêm trọng phải báo cáo sơ bộ trong 72 giờ hoặc 05 ngày làm việc. Hệ thống AI đã chạy từ trước được gia hạn đến 01/3/2027, riêng y tế, giáo dục và tài chính đến 01/9/2027.
Bài này viết cho đội ngũ trực tiếp xây và vận hành AI: doanh nghiệp Việt Nam, công ty SaaS nước ngoài bán sản phẩm AI vào Việt Nam, và khách hàng đang làm việc với một đối tác kỹ thuật tại Việt Nam. Mọi số điều, khoản dưới đây đã được đối chiếu với văn bản gốc đăng trên Công báo (congbao.chinhphu.vn). Đây là bản tóm tắt thực hành, không phải tư vấn pháp lý. Hãy xác nhận trường hợp cụ thể của bạn với luật sư tại Việt Nam.
Đây là luật chuyên biệt đầu tiên của Việt Nam về AI. Luật quản lý theo rủi ro toàn bộ hoạt động nghiên cứu, phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng hệ thống AI tại Việt Nam (Điều 1). Khung pháp lý hiện có ba văn bản chính:
| Văn bản | Ban hành | Hiệu lực | Nội dung chính |
|---|---|---|---|
| Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 | Quốc hội thông qua 10/12/2025 | 01/3/2026 | Mức độ rủi ro, hành vi bị nghiêm cấm, minh bạch, sự cố, nghĩa vụ với hệ thống rủi ro cao, trách nhiệm bồi thường, chuyển tiếp |
| Nghị định 142/2026/NĐ-CP | 30/4/2026 | 01/5/2026 | Nguyên tắc phân loại, hồ sơ phân loại rủi ro, thông báo, đánh giá sự phù hợp, đánh dấu và gắn nhãn, thời hạn báo cáo sự cố, thử nghiệm có kiểm soát |
| Quyết định 33/2026/QĐ-TTg | 30/6/2026 | 15/8/2026 | Danh mục 46 hệ thống AI rủi ro cao thuộc 6 lĩnh vực, kèm lộ trình chuyển tiếp cho hệ thống trong danh mục |
Hoạt động AI chỉ phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, cơ yếu không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật (khoản 2 Điều 1).
Có, nếu bạn tham gia hoạt động AI tại Việt Nam, dù là tổ chức Việt Nam hay nước ngoài (Điều 2). Luật định nghĩa bốn vai trò, và nghĩa vụ của bạn phụ thuộc vào vai trò bạn nắm giữ (Điều 3):
Một ví dụ điển hình: công ty fintech đưa mô hình chấm điểm tín dụng vào ứng dụng dưới thương hiệu của mình là nhà cung cấp. Ngân hàng mua bản quyền để dùng là bên triển khai. Công ty kỹ thuật xây hệ thống cho fintech là nhà phát triển. Nếu bạn là công ty nước ngoài làm việc với đối tác kỹ thuật tại Việt Nam, các nghĩa vụ quan trọng nhất thường thuộc về bên đưa hệ thống vào sử dụng tại Việt Nam. Hãy ghi rõ vai trò của từng bên trong hợp đồng.

Có ba mức, và nhà cung cấp tự phân loại hệ thống của mình trước khi đưa vào sử dụng (Điều 9, khoản 1 Điều 10; Điều 6 Nghị định 142):
| Mức rủi ro | Định nghĩa | Cách xác định | Nghĩa vụ chính |
|---|---|---|---|
| Cao | Có thể gây thiệt hại đáng kể đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, an ninh quốc gia | Hệ thống thuộc Danh mục do Thủ tướng ban hành (Quyết định 33/2026) | Hồ sơ phân loại, thông báo trước khi sử dụng, đánh giá sự phù hợp, quản lý rủi ro, nhật ký, giám sát của con người, minh bạch, xử lý sự cố |
| Trung bình | Có khả năng gây nhầm lẫn, tác động hoặc thao túng người dùng do họ không nhận biết được đang tương tác với AI hoặc nội dung do AI tạo ra | Không thuộc Danh mục rủi ro cao và đáp ứng tiêu chí tại Điều 9 Nghị định 142 | Hồ sơ phân loại, thông báo trước khi sử dụng, minh bạch, giải trình khi được yêu cầu |
| Thấp | Các hệ thống còn lại | Không thuộc hai trường hợp trên | Giải trình khi có dấu hiệu vi phạm; khuyến khích công khai thông tin cơ bản |
Nghị định 142 thu hẹp nhóm rủi ro trung bình. Hệ thống không bị xếp vào nhóm này nếu chỉ chỉnh sửa kỹ thuật mà không tạo nội dung mới hay thay đổi danh tính, là công cụ văn phòng mà người dùng nhận biết rõ là AI qua bối cảnh sử dụng, không cung cấp nội dung ra công chúng, dùng cho nghệ thuật, điện ảnh, trò chơi có bối cảnh hư cấu rõ ràng, hoặc chỉ xử lý dữ liệu bên trong hệ thống kỹ thuật mà không tương tác với người dùng (khoản 3 Điều 9). Việc phân loại áp dụng cho hệ thống AI, không áp dụng cho mô hình đơn thuần, trừ khi mô hình là thành phần của một hệ thống cụ thể (khoản 2 Điều 6).
Quyết định 33/2026/QĐ-TTg liệt kê 46 hệ thống thuộc 6 lĩnh vực. Mỗi mục chỉ áp dụng khi đáp ứng điều kiện cụ thể, vì vậy hãy đọc kỹ cột "Mô tả hệ thống" của dòng liên quan, đừng chỉ đọc tên.
| Lĩnh vực | Số hệ thống | Ví dụ (mỗi mục đều kèm điều kiện) |
|---|---|---|
| Giáo dục | 3 | Cung cấp nội dung tự học từ nguồn dữ liệu không kiểm soát trên quy mô lớn; tự động kiểm tra, xếp hạng người học khi kết quả được dùng làm căn cứ chính thức; giám sát hành vi người học bằng sinh trắc học hoặc cảm xúc |
| Dân tộc và tôn giáo | 7 | Tự động chấm điểm hoặc ra quyết định cuối cùng về đối tượng thụ hưởng chính sách; chấp thuận, gia hạn, hủy bỏ hồ sơ; dừng hỗ trợ do nghi ngờ gian lận; suy đoán, phân loại dân tộc, tôn giáo của cá nhân |
| Y tế | 2 | AI trong rô-bốt phẫu thuật trực tiếp can thiệp, hoặc thực thi mà không cần nhân viên y tế xác nhận từng bước thay đổi thông số |
| Ngân hàng | 2 | AI tự tạo và phê duyệt giao dịch giá trị cao mà không có con người kiểm soát; AI ra quyết định cuối cùng cấp tín dụng mà không có phê duyệt độc lập của cán bộ tín dụng |
| Tố tụng | 1 | Nhận dạng sinh trắc học diện rộng tại hiện trường, phục vụ giải quyết vụ án dân sự công ích |
| Giao thông vận tải | 31 | Điều khiển phương tiện tự hành, điều hành tín hiệu và điều độ, hệ thống quản lý bay và sân bay, phát hiện UAV/drone xâm nhập |
Hai mục ngân hàng cho thấy cách danh mục vận hành. Chấm điểm tín dụng không mặc nhiên là rủi ro cao. Nó chỉ thành rủi ro cao khi hệ thống ra quyết định cuối cùng phê duyệt hoặc từ chối, và quyết định đó được dùng trực tiếp để cấp tín dụng hoặc giải ngân mà không có phê duyệt độc lập của cán bộ tín dụng. Khoản 2 Điều 8 Nghị định 142 còn nêu các trường hợp loại trừ. Hệ thống không được đề xuất đưa vào danh mục nếu chỉ thu thập, chuẩn hóa, phân loại hoặc dịch dữ liệu, nếu người có thẩm quyền thực sự xem xét độc lập và có thể bác bỏ hoặc thay đổi quyết định của hệ thống trước khi quyết định có hiệu lực, nếu chỉ phục vụ quản trị nội bộ, hoặc nếu kết quả chỉ mang tính tham khảo và không bao giờ là căn cứ duy nhất để ra quyết định cuối cùng. Trên thực tế, một bước con người duyệt được thiết kế tốt thường chính là điều giữ hệ thống ngoài danh mục.
Nhà cung cấp gánh nghĩa vụ thiết kế, bên triển khai gánh nghĩa vụ vận hành (Điều 14 Luật; Điều 12–15 Nghị định 142). Với nhà cung cấp:
Bên triển khai phải vận hành hệ thống đúng mục đích và mức rủi ro đã phân loại, bảo đảm an toàn dữ liệu, duy trì khả năng can thiệp của con người, giám sát để phát hiện sai lệch, và kịp thời hành động và thông báo khi có nguy cơ thiệt hại nghiêm trọng (khoản 2 Điều 14 Luật; khoản 4–6 Điều 15 Nghị định). Nhà cung cấp nước ngoài có hệ thống rủi ro cao cung cấp tại Việt Nam phải có đầu mối liên hệ hợp pháp tại Việt Nam. Nếu hệ thống thuộc diện phải chứng nhận sự phù hợp, phải có hiện diện thương mại hoặc đại diện được ủy quyền (khoản 6 Điều 14 Luật).
Các nghĩa vụ này áp dụng cho mọi mức rủi ro, không chỉ hệ thống rủi ro cao:
Báo cáo sơ bộ trong 72 giờ với sự cố gây thiệt hại tính mạng hoặc tổn hại nghiêm trọng sức khỏe, gây gián đoạn nghiêm trọng dịch vụ công, dịch vụ thiết yếu hoặc ảnh hưởng an ninh quốc gia. Thời hạn 72 giờ cũng áp dụng khi xâm phạm nghiêm trọng quyền con người mà không thể kiểm soát. Các sự cố nghiêm trọng còn lại có 05 ngày làm việc. Báo cáo chính thức về kết quả khắc phục nộp trong 15 ngày kể từ ngày nộp báo cáo sơ bộ (Điều 19 Nghị định 142). Thời hạn tính từ khi bạn có đủ thông tin ban đầu để xác định sự cố đã xảy ra và nhiều khả năng do lỗi của hệ thống AI, không đợi điều tra xong. Nộp báo cáo đúng hạn không bị coi là thừa nhận lỗi. Báo cáo dùng Mẫu AI01a (tổ chức) hoặc AI01b (cá nhân) qua Cổng thông tin một cửa. Nhà cung cấp và bên triển khai phải lưu nhật ký hệ thống và dữ liệu liên quan đến sự cố. Nếu bên triển khai không liên lạc được với nhà cung cấp, bên triển khai phải tự báo cáo.
Có ba nhóm mốc, tùy hệ thống đi vào hoạt động khi nào và có thuộc danh mục rủi ro cao hay không:
| Trường hợp | Hạn hoàn thành nghĩa vụ | Căn cứ |
|---|---|---|
| Mọi hệ thống AI hoạt động trước 01/3/2026, lĩnh vực y tế, giáo dục, tài chính | 18 tháng: đến 01/9/2027 | Điểm a khoản 1 Điều 35 Luật |
| Mọi hệ thống AI hoạt động trước 01/3/2026, lĩnh vực khác | 12 tháng: đến 01/3/2027 | Điểm b khoản 1 Điều 35 Luật |
| Hệ thống trong danh mục rủi ro cao, hoạt động trước 15/8/2026, lĩnh vực y tế, giáo dục, tài chính | Trước 01/9/2027 | Điểm a khoản 1 Điều 4 Quyết định 33/2026 |
| Hệ thống trong danh mục rủi ro cao, hoạt động trước 15/8/2026, các lĩnh vực còn lại | Trước 01/3/2027 | Điểm b khoản 1 Điều 4 Quyết định 33/2026 |
| Hệ thống trong danh mục đưa vào hoạt động trong 06 tháng kể từ 15/8/2026 | Trước 01/3/2027 | Khoản 3 Điều 4 Quyết định 33/2026 |
| Hệ thống trở thành rủi ro cao do danh mục được sửa đổi | Tối đa 12 tháng kể từ khi quyết định sửa đổi có hiệu lực; trong thời gian đó phải có giám sát thực chất của con người và lưu đầy đủ nhật ký | Khoản 5 Điều 11 Nghị định 142 |
Trong thời hạn chuyển tiếp, hệ thống được tiếp tục hoạt động, trừ khi cơ quan có thẩm quyền xác định có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng và yêu cầu tạm dừng. Hệ thống mới ra mắt hôm nay không có thời gian ân hạn cho việc phân loại và thông báo. Hai việc này phải làm trước khi đưa vào sử dụng.

Tùy tính chất, mức độ, vi phạm bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, và nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo pháp luật dân sự (Điều 29). Luật đã thông qua không quy định mức phạt tiền cụ thể. Việc xử phạt hành chính được giao cho Chính phủ quy định (khoản 5 Điều 29), và Nghị định 142 không có nội dung này. Các dự thảo trước đây, theo báo chí đưa tin, từng đề xuất mức phạt tối đa 2 tỷ đồng và mức phạt theo phần trăm doanh thu, nhưng các con số đó không có trong luật được thông qua. Hai quy tắc trách nhiệm đã áp dụng ngay. Nếu hệ thống rủi ro cao được vận hành đúng quy định mà vẫn gây thiệt hại, bên triển khai bồi thường cho người bị thiệt hại trước, rồi yêu cầu nhà cung cấp hoặc nhà phát triển hoàn trả nếu các bên có thỏa thuận (khoản 2 Điều 29). Nếu bên thứ ba xâm nhập, chiếm quyền điều khiển hệ thống, bên thứ ba chịu trách nhiệm, nhưng nhà cung cấp hoặc bên triển khai có lỗi để xảy ra việc đó phải liên đới bồi thường (khoản 4 Điều 29). Cơ quan quản lý cũng có quyền yêu cầu phân loại lại, tạm dừng hoặc thu hồi hệ thống (khoản 6 Điều 10, khoản 3 Điều 12).
Nếu bạn đã xây sản phẩm theo EU AI Act, phần lớn công việc kỹ thuật dùng lại được. Cả hai đều quản lý theo rủi ro, đều yêu cầu công khai với chatbot và nội dung do AI tạo, và đều đòi hỏi giám sát của con người, nhật ký và hồ sơ kỹ thuật với hệ thống rủi ro cao. Có ba điểm khác cần lưu ý tại Việt Nam. Rủi ro cao được xác định bằng một danh mục quốc gia đóng gồm 46 hệ thống, mỗi mục kèm điều kiện chi tiết. Hệ thống rủi ro trung bình cũng phải thông báo lên cổng quốc gia trước khi sử dụng. Và sự cố nghiêm trọng có thời hạn báo cáo cố định 72 giờ và 05 ngày làm việc. Hãy duy trì một bộ biện pháp kiểm soát và ánh xạ sang cả hai chế độ, thay vì chạy hai dự án tuân thủ riêng.

Chúng tôi là studio kỹ thuật tại Hà Nội, chuyên xây AI cho các ngành bị quản lý, nên các biện pháp kiểm soát này là một phần công việc thiết kế thường ngày. Chúng tôi không phải công ty luật, và chúng tôi làm việc cùng luật sư của bạn.
Có. Mọi hệ thống AI tương tác trực tiếp với con người phải được thiết kế để người dùng nhận biết đang tương tác với AI (khoản 1 Điều 11). Nếu người dùng có thể bị nhầm lẫn về điều này, hệ thống nhiều khả năng thuộc nhóm rủi ro trung bình, tức là phải có hồ sơ phân loại và thông báo trước khi sử dụng.
Không. Nghĩa vụ thông báo áp dụng cho hệ thống rủi ro trung bình và cao. Với hệ thống rủi ro thấp, luật chỉ khuyến khích công khai thông tin cơ bản (khoản 3 Điều 10).
Không. Luật và Nghị định 142 quy định việc giải trình và hồ sơ phân loại không bắt buộc tiết lộ mã nguồn, thuật toán chi tiết, bộ tham số, dữ liệu huấn luyện thô hay bí mật kinh doanh (điểm e khoản 1 Điều 14 Luật; khoản 4 Điều 12 và khoản 4 Điều 16 Nghị định).
Chỉ trong một số trường hợp. Nhà cung cấp nước ngoài có hệ thống rủi ro cao cung cấp tại Việt Nam phải có đầu mối liên hệ hợp pháp tại Việt Nam. Nếu hệ thống đó phải chứng nhận sự phù hợp trước khi sử dụng, phải có hiện diện thương mại hoặc đại diện được ủy quyền (khoản 6 Điều 14).
Đánh dấu máy đọc là bắt buộc với âm thanh, hình ảnh, video do AI tạo, không bắt buộc với văn bản trừ khi pháp luật khác quy định (khoản 1 Điều 17 Nghị định 142). Tuy vậy, bên triển khai vẫn phải thông báo khi đưa ra công chúng văn bản do AI tạo có thể gây nhầm lẫn về sự kiện, nhân vật thật.
Có. Luật lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, và kết quả thử nghiệm có thể là căn cứ để công nhận đánh giá sự phù hợp hoặc miễn, giảm nghĩa vụ tuân thủ (Điều 21). Chương IV Nghị định 142 quy định cấp độ thử nghiệm, thủ tục và chế độ báo cáo.
BeevR là studio phần mềm và AI do founder dẫn dắt, đội ngũ senior, đặt tại Hà Nội. Chúng tôi làm giá cố định theo từng giai đoạn, bạn sở hữu code và IP từ ngày đầu, và chúng tôi xây phần mềm tuân thủ cho y tế, fintech và các ngành bị quản lý khác. Nếu bạn đang xây mới hoặc làm lại một hệ thống AI cần đáp ứng Luật Trí tuệ nhân tạo, HIPAA hay PCI DSS, hãy kể cho chúng tôi bạn đang xây gì.